Tài nguyên dạy học

Đồng hồ, ngày tháng

ĐỌC BÁO ONLINE

BXH Bóng đá

Danh ngôn tình yêu


Xem thư của bạn

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    New_Picture_28.gif New_Picture_141.bmp New_Picture_131.bmp New_Picture_121.bmp Qua_tang_cuoc_song__Ong_Vua_Lun__14_09_2011__VTV3__YouTube.flv Suc_Manh_Cua_Loi_Noi__Qua_Tang_Cuoc_Song__YouTube.flv Qua_Tang_Cuoc_Song__Lon_Gay_Lon_Beo__YouTube.flv Soi_va_Co_Trang___Khoanh_khac_ky_dieu__YouTube.flv QUA_TANG_CUOC_SONG__Gia_dinh_chim_cut__YouTube1.flv Qua_tang_cuoc_song__Cau_be_thong_minh__YouTube.flv Qua_tang_cuoc_song_Me_lanh_lam_phai_khong__YouTube.flv Phim_Hoat_Hinh__chuyen_di_cua_tac_ke_1__YouTube.flv Qua_tang_cuoc_song__Cho_va_nhan__YouTube.flv Qua_tang_cuoc_song_Dem_cuoi_cung__YouTube.flv Qua_Tang_Cuoc_Song__Tu_Nguoi_Lam_Thue_Tro_Thanh_Ong_Chu__YouTube.flv Su_tich_qua_dua_hau1.flv Noi_khong_co_viec_lam.flv Vet_cham_tren_khuon_mat.flv Kho_khan_thu_thach_de_lai_gi.flv Ngoi_nha_guong.flv

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Từ điển


    Tra theo từ điển:



    Sắp xếp dữ liệu

    Ai đã ghé qua

    BQT Website cunghocvatly.violet.vn

    Cám ơn quý vị và các bạn đã ghé thăm trang web, Mong được góp ý để trang web hoàn thiện hơn
    Bây giờ là:

    Chào mừng quý vị đến với website cùng học vật lý

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Chuyên đề BD > Vật lý hiện đại >

    Đôi nét về hạt Quark

    quark

     Các hạt cơ bản được phân loại theo nhiều tiêu chí. Nếu xét trên vai trò cấu thành và liên kết của thế giới vật chất,  thì chúng gồm hai loại: loại cấu thành nên thế giới vật chất và  loại truyền  tương tác  liên kết giữa các hệ vật chất. 

    Hạt cấu thành vật chất. Các hạt loại này đều có spin  s = 1/ 2. Chúng được phân thành hai nhóm: lepton và quark.  Các hạt mà trước đây vài chục năm còn được cho là hạt cơ bản, như proton, neutron, p -meson (pion),…, thì bây giờ đều được coi là các hệ phức hợp của nhiều quark. Chúng được gọi là các hadron. Khi hệ là quark và phản quark, chúng được gọi là meson, còn khi hệ là ba quark, chúng được gọi là baryon.

    quark

    Loại vật chất truyền tương tác, chúng  là các hạt  truyền tương  tác giữa các cấu  tử vật chất. Cho đến nay có thể cho rằng, giữa thế giới của các hạt vật chất có bốn loại tương tác cơ bản:

    - Tương  tác hấp dẫn,  liên kết  tất cả các hạt có khối  lượng  trong vũ trụ.

    - Ttương tác điện từ, xẩy ra giữa các hạt mang điện tích, nhờ nó, có cấu tạo nguyên tử và phân tử.

    - Tương  tác mạnh,  liên kết các quark có màu để  tạo  thành hadron, trong đó có proton, neutron, các hạt tạo nên hạt nhân nguyên tử.

    - Tương tác yếu, gây nên đa số các hiện tượng phóng xạ, trong đó có phóng xạ.

    Trừ tương tác hấp dẫn, tất cả các tương tác khác đều được truyền bằng các hạt boson, có spin  s = 1. Photon  , truyền tương tác điện từ. 8 hạt gluon g  truyền tương tác mạnh, 3 hạt W± và  Z  truyền tương tác yếu.

    Bài này xin giới thiệu về các hạt quark và vai trò của nó trong mô hình hạt cơ bản hiện nay cùng với các sự kiện xác nhận chúng.

    Đến nay, đã biết 6 quark khác nhau. Để phân biệt, mỗi loại được gọi là một hương (flavor). Như vậy, quark có 6 hương, ký hiệu là: u, d, s, c, b và  t .

    Điện tích của chúng là phân số. Bảng dưới sẽ cho tên, khối lượng và một số thông tin về chúng.

    Nếu như lepton có số lượng tử lepton, quark cũng có một số lượng tử cộng tính, gọi là số baryon, ký hiệu là  B . Mỗi hương quark đều có số baryon bằng 1/3. Các phản quark có số baryon bằng  -1/3.

    Từ hai hương u và d có thể tạo ra được proton và neutron, tức là hạt nhân nguyên tử của mọi chất.


    Ba thế hệ hạt tạo ra thế giới vật chất và nhóm hạt truyền tương tác

    Electron, proton, notron không phải là nhỏ nhất

    Sự gia tăng mau lẹ các hạt cơ bản thực sự làm người ta nghi ngờ tính cơ bản của các hạt. Các hạt thực sự cơ bản hay chưa hay còn có cấu trúc bên trong? Gell-Mann độc lập với Zweig dựa trên phương diện lý thuyết nhóm, đã đề ra mô hình quark, Người ta tìm thấy rằng các barion phải được cấu tạo từ các hạt có B = 1/3, như vậy, các hạt giả định này không phải là các hạt thông thường, chúng được giả định là bị cầm tù trong các hadron. Các hạt giả định này là quark. Để đơn giản, quark được gán spin là 1/2. Điện tích của một quark (lúc bây giờ gọi là up quark – quark trên) được gán là +2/3. Quark còn lại (lúc bây giờ gọi là down quark – quark dưới) được gán điện tích là -1/3. [1]

    Mọi nỗ lực tìm quark  đều thất bại khiến người ta đặt ra câu hỏi liệu các hadron có thực sự được cấu tạo từ quark hay không. Sự phá bỏ nghi ngờ và các câu trả lời xác đáng chỉ có được khi bắt đầu có các thí nghiệm nghiên cứu sự tán xạ không đàn tính sâu ở năng lượng cao với các nucleon. [2]

    Mặc dù Quark bị “cầm tù” trong các hadron nhưng không phải là chúng ta không thể xâm nhập vào và nghiên cứu chúng. Điều này làm ta nhớ lại thí nghiệm lá vàng của Rutherford xác định được cấu trúc nguyên tử. Tương tự mô hình thí nghiệm những năm 60, các nhà khoa học sử dụng các electron năng lượng cao tại Stanford Linear Accelerator Center (SLAC), trong những năm 70, họ đã lặp lại các thí sử dụng những dòng hạt neutrino tại CERN va cham với bia proton. Kết quả được gọi là “sự tán xạ  không đàn tính sâu”. Đồ thị của nó làm ta nhớ đến thí nghiệm Rutherford xác định cấu trúc nguyên tử. Các thí nghiệm này đã xác nhận proton có cấu trúc.

     

    Quark: Từ “phép lạ” đến Quark Lạ (Strange Quark) 

     

    Năm 1947, khi nghiên  cứu tương  tác  của các  tia  vũ trụ, đã  tìm  thấy một hạt có thời gian sống dài hơn dự kiến: 10-10s thay cho 10-23s, trong số các sản phẩm sau va chạm giữa proton và hạt nhân. Hạt này được gọi là hạt lambda (Λ). Thời gian sống của nó dài hơn rất nhiều so với dự kiến, đã được gọi là “phép lạ”, từ đó Gell-Mann và Nishijima dẫn đến giả thiết về sự tồn tại hương quark thứ ba trong thành  phần  của lambda ứng với sự tồn tại số lượng tử lạ Sq (1953 - 1954) [2].  Hương  quark này  được  gọi là  “quark  lạ”- strange quark, ký hiệu là  s. Hạt lambda sẽ là một baryon được tạo thành từ  ba quark: up, down và strange.

    Thời gian sống được dự kiến cho lambda là cỡ 10­-23 s, bởi vì lambda là baryon, nên nó sẽ phân rã do tương tác mạnh. Việc lambda có thời gian sống dài hơn dự kiến chắc chắn phải do  sự chi phối của một định  luật bảo  toàn mới, đó là định luật "bảo toàn số lạ".

    Định luật bảo toàn số lạ sẽ ngăn cấm các phản ứng phân rã do  tương tác mạnh và tương tác điện từ mà không bảo toàn số lạ. Nhưng  trong tất cả các phẩn ứng phân rã của lambda thành các sản phẩm nhẹ hơn:

     phẩn ứng phân rã của lambda

    các định  luật bảo toàn số  lạ đều bị vi phạm. Các hạt sản phẩm phân rã có số lạ bằng không. Vì vậy, sự phân rã của L  phải gây nên bởi tương tác khác, yếu hơn nhiều so với tương tác điện từ và tương tác mạnh, gọi là tương tác yếu.

    Tương tác yếu sẽ biến quark lạ thành quark up và down. Hệ quả là, lambda bị phân rã thành các hạt không lạ. Do tương tác rất yếu nên lambda có thời gian sống dài hơn dự kiến.

     

    Quark: Sự đối xứng Quark – Lepton và lời đề nghị cho Quark Duyên (Charm Quark) 

     

     

     

    21/05/2009 http://www.fnal.gov/pub/today/images08/ROW010308Wc_fig-s.jpgNăm 1964, một điềm lạ xuất hiện mang tên “Sự đối xứng Quark – Lepton và lời đề nghị cho Quark Duyên”.

    Hai nhóm dòng lepton: electron – neutrion kết hợp của chúng và muon – neutrino kết hợp của muon đã được thiết lập năm 1964. Tuy nhiên, về phương diện quark, mới chỉ biết được 3 quark u, d và s. Hai quark đầu (u, d) nằm trong lưỡng tuyến với isospin là 1/2. Bjorken và Glashow đã dựa trên sự đối xứng Quark – Lepton dự đoán rằng quark s phảI thuộc về một nhóm quark thứ hai mà thành viên còn lại là chưa tìm thấy. Họ gọi thành viên may mắn này là quark duyên (Charm Quark - c) [2]

     

    Năm 1974, Quark duyên được phát hiện. Nhóm của Ting tại Brookhaven (AGS) nghiên cứu sự tán xạ của proton lên bia Be:

    p + Be à e+e- + X

    và nhóm của Richter tại SLAC nghiên cứu sự tán xạ:

    e+e-à hadrons, e+e-, μ +μ-

    kết quả cho thấy một đỉnh rất nhọn trong tiết diện tán xạ toàn phần. Và từ đó, phát hiện một hạt mới với khối lượng khoảng 3.1 GeV gọi là hạt J/ψ. Hạt này lớn hơn gấp ba lần khối lượng proton. Nghiên cứu tỉ mỉ, người ta thấy rằng đó là một vector meson và xác định được số lượng tử của nó. Trong bức tranh quark lúc bấy giờ, đặt biệt là đề xuất của Bjorken và Glashow về quark duyên, hoàn toàn có thể nhận ra rằng nó là trạng tháI liên kết 1S của cặp quark và phản quark duyên (trạng tháI liên kết ). Và đây  là hạt đầu  tiên có  trong thành phần một loại hương quark duyên. Quark duyên có số lượng tử duyên  C =+1. Phản quark duyên có C = -1 còn các quark khác có số duyên bằng không.

    Chính vì ψ là trạng tháI liên kết  nên số duyên của nó là 0, đây được gọi là “vẻ quyến rũ tiềm ẩn” – hidden charm [2].

    Dựa trên các thí nghiệm này, người ta ước lượng được quark duyên có khối lượng trong khoảng từ 1 – 1.6 GeV. Theo các phát hiện ban đầu về trạng tháI liên kết 1S , các trạng tháI kích thích 2S, 3S,… của hệ cũng được phát hiện. Các hệ liên kết này được gọi là “nét duyên” – Charmonium [2]

    Quark  duyên cùng  với  các quark  thông  thường u, d  tạo nên  các  hạt cộng hưởng có duyên.

    Meson nhẹ nhất có  chứa  quark duyên  là D meson. Nó  là một ví dụ điển hình của quá trình chuyển đổi từ quark duyên sang quark lạ chi phối bởi tương tác yếu, và do quá trình chuyển đổi này mà D meson phân rã thành các hạt nhẹ hơn. 

    Baryon nhẹ nhất có quark duyên được gọi là  lambda cộng, ký hiệu là . Nó có cấu trúc quark (udc) và có khối lượng cỡ 2281 MeV.

     

     Quark: Sự phát hiện quark đáy và lần tìm quark đỉnh

     

    21/05/2009

    http://www-d0.fnal.gov/~schwier/images/singletopAnimationst3.gif

    Sự phát hiện quark đáy (Bottom/Beauty Quark)

    Năm 1977, nhóm thực nghiệm dưới sự chỉ đạo của Leon Lederman tại Fermilab (Fermi National Accelerator   Laboratory ở  Batavia,  Illinois (gần Chicago)) thực hiện tán xạ của proton 400 GeV lên hạt nhân và một năm sau đó trong tán xạ e+e- ở DESY người ta đã tìm thấy một hạt cộng hưởng mới với khối lượng cỡ  9,5 GeV. Hạt này đã được xem như trạng thái liên kết của cặp quark mới là quark đáy - phản  quark  đáy, (bottom-antibottom  quark) ,  và  được  gọi là  meson Upsilon Y. Từ các thí nghiệm này suy ra khối lượng của quark đáy  b  vào cỡ 5GeV . Phản ứng được nghiên cứu là:

     

    trong đó N là hạt nhân của đồng đỏ. Hương quark đáy có một số lượng tử mới là số đáy  B = -1. Đối với các hương quark khác, số đáy bằng không.

    Các quark hình như  tạo với nhau  thành các đa  tuyến trong  lý  thuyết tương tác yếu. Chúng tạo thành các lưỡng tuyến yếu, như  (u, d), (c, s).

    Lần tìm Quark đỉnh (Top Quark)

    Khi cần đưa vào quark đáy b để giải thích sự tồn tại của hạt Upsilon (Y), thì tự nhiên nảy sinh vấn đề tồn tại một hạt quark song hành với nó. Hạt này được gọi là quark đỉnh - top quark, ký hiệu là  t.

    Sau nhiều năm tìm kiếm quark top như là một thành viên của họ quark thứ  3 cùng họ với quark bottom, cuối cùng vào tháng 4 năm 1995 nó cũng được phát hiện bởi sự hợp tác của CDF và D0  ở Fermilab. Bằng máy gia  tốc Tevatron thuộc viện Fermilab đã tạo ra proton cỡ  0.9 TeV và cho nó va chạm trực tiếp với phản proton có năng lượng tương tự. Bằng cách phân tích các sản phẩm va chạm, người ta đã tìm được dấu vết của  t-quark . Kết quả này cũng được khẳng định sau khi  sử  lý hàng tỷ  kết  quả thu  được  trong quá  trình  va chạm  proton-phản proton với năng lượng cỡ 1.8 TeV. [2]

    Từ những phát hiện ban đầu này, đã có nhiều thí nghiệm xác minh lại sự tồn tại của hương quark t. Các kết quả đo đạc đã chỉ ra rằng nó quả thực là quark top trong mô hình chuẩn, cùng họ với quark bottom.

    Khối  lượng của  top- quark cỡ vào khoảng 174.3 +/- 5.1 GeV. Nó  lớn hơn 180 lần khối lượng của proton và gần hai lần khối lượng của hạt cơ bản nặng nhất vừa tìm được, meson vectơ Z0. Quark đỉnh có  số  lượng  tử mới là  số đỉnh. Nó bằng  T=+1 cho quark đỉnh, bằng -1 cho phản quark đỉnh. Số đỉnh sẽ bằng không cho các quark khác.

    Thiếu quark top, mô hình chuẩn sẽ gặp vấn đề lớn vì các dị thường trong mô hinh chuẩn không được khử đi và do đó không được tái chuẩn hóa.

    Việc tìm quark top, đo đạc khối lượng của chúng là một mốc quan trọng  trong việc xác nhận mô hình chuẩn. Các tri kiến thức này là những điểm quan trọng nhất giúp tìm ra hạt Higgs sau này.

    Ngoài những số lượng tử như số baryon, số lạ, số duyên, số đỉnh và số đáy, các quark còn có một số lượng tử khác, gọi là isospin. Isospin được đưa vào để mô tả các nhóm hạt có tính chất gần giống nhau, có khối lượng xấp xỉ nhau như proton và neutron. Nhóm hai hạt này (p, n), còn gọi là lưỡng tuyến, được nói  rằng,  có isospin bằng 1/2, với  hình  chiếu +1/2  cho proton  và  -1/2 cho neutron. Ba hạt π-meson tạo thành một bộ ba, hay một tam tuyến, với  isospin 1. Hình chiếu +1 cho hạt π +-meson, 0 và  -1 cho các pion trung hoà và âm (π0-meson, π--meson).

    Isospin  thực chất  liên quan đến  tính độc  lập điện  tích của  tương  tác mạnh.  Đối  với tương  tác  mạnh, bất kỳ  thành  phần nào  của  lưỡng  tuyến isospin proton-neutron cũng  tương đương nhau:  cường độ  “hấp dẫn mạnh” của proton-proton, proton-neutron, neutron-neutron đều giống hệt nhau.

    Ở  cấp độ  quark,  quark up  và  down sẽ  tạo  thành một  lưỡng  tuyến isospin,  tức I=1/2. u  sẽ  tương ứng với hình  chiếu I3 =1/ 2,  trong khi d  tương ứng với I3=-1/2. Các quark khác s, c,  b, t có isospin bằng 0. Chúng được gọi là các đơn tuyến isospin.

    Isospin được gắn với một định luật bảo  toàn, đó  là bảo  toàn isospin: Tương tác mạnh bảo toàn isospin. Ví dụ, quá trình sau đây:

    bị  cấm vì không bảo toàn isospin,  cho  dù nó  bảo  toàn điện  tích,  spin, hay  số  baryon.

    Sự bảo toàn số lạ, số duyên, số đáy, số đỉnh thực ra không phải là các định luật bảo  toàn độc  lập. Chúng được xem như một  sự kết hợp của định luật bảo  toàn  điện  tích, isospin  và  số baryon. Đôi  khi  chúng được diễn  tả thông qua một đại lượng, gọi là siêu tích Y, định nghĩa bởi:

    Y=B+S+C+Bq+Tq

    Khi đó s, c, b, t  sẽ có siêu tích tương ứng bằng: -2/3, 4/3, -2/3, 4/3. [3]

     

     Quark: Quark có kèm theo màu – số lượng tử màu

     


    Quark structure proton.svgCác quark có spin 1/2 , vậy chúng là các fermion. Theo nguyên lý loại trừ Pauli, không  thể có hai  fermion giống nhau  trong cùng một  trạng  thái. Tuy nhiên, proton lai tạo thành từ hai quark  u và một quark  d, Δ++  tạo nên từ ba quark  u, Δ- tạo nên từ ba quark  d, Ω-1  tạo nên từ ba quark  s,…. Để bảo đảm  thoả mãn nguyên  lý  loại trừ Pauli, mỗi hương quark phải có  thêm một số lượng tử cộng tính khác, được gọi là màu (color). Có tất cả 3 màu, thường được gọi là đỏ (red), xanh (blue), vàng (yellow). Các  phản quark có các màu ngược lại (antired-antiblue-antiyellow). Nếu ba quark với ba màu khác nhau, hoặc một quark với một phản quark kết hợp với nhau,  ta sẽ  thu được một hạt không màu. 

    Cho đến nay, vì chưa quan sát thấy hạt có màu trong tự nhiên, nên các quark được giả thiết là bị cầm tù trong các hadron. Ví dụ hạt Ω-  chẳng hạn, nó  được  tạo thành  từ  ba quark  lạ. Để  thoả mãn  nguyên lý  loại  trừ Pauli, chúng phải có ba màu khác nhau (S-xanh,  S-đỏ, S-vàng). [3]

    Việc biểu diễn cấu trúc các hạt trên quark bởi các quark giúp giải thích phù hợp một số hiện tượng, tính chất là một trong những thành công và vai trò của mẫu quark trong mô hình hạt cơ bản.

     

    Quark: Quark trong mô hình chuẩn - Standard model 

     

    21/05/2009

    http://na47sun05.cern.ch/target/smodel/atom.gif

    Ta tổng kết các hiểu biết về quark và lepton trong 2 bảng sau. Bảng đầu chỉ ra các quark được nhóm vào cùng dòng (families). Các quark ở dòng trên có điện tích là +2/3, ở dòng dưới đều có điện tích là -1/3. Mỗi cột được gọi là một thế hệ (generation). Quark up (u) và quark down (d) là thế hệ đầu tiên, quark duyên (c) và quark lạ (s) thuộc thế hệ thứ 2, quark top (t) và quark bottom (b) ở thế hệ thứ 3.

    Tương tự, bảng tiếp theo này mô tả các dòng và các thế hệ của lepton

    [5]

    Mô hình chuẩn là lý thuyết kết hợp hai lý thuyết của các hạt cơ bản thành một lý thuyết duy nhất mô tả tất cả các tương tác dưới mực nguyên tử, trừ tương tác hấp dẫn. Hai thành phần của Mô hình chuẩn tắc là Lý thuyết điện từ-yếu, mô tả tương tác điện từ và yếu, và QCD, Sắc động lực học lượng tử, mô tả tương tác mạnh. Cả hai lý thuyết đều là lý thuyết bất biến gauge, trong đó tương tác được thực hiện bởi các boson truyền có spin bằng 1. Nhóm đối xứng chuẩn là

    Bên cạnh các boson truyền lực, Mô hình chuẩn tắc còn chứa hai họ hạt tạo nên vật chất có spin bằng 1/ 2 . Các hạt này là quark và lepton, và chúng có 6 hương, phân chia thành các cặp và nhóm lại thành ba “thế hệ” có khối lượng tăng dần. Vật chất thông thường được tạo nên từ các thành viên của thế hệ nhẹ nhất: "up" và "down" quark  tạo nên proton và neutron của hạt nhân nguyên  tử; electron quay  trên  các quỹ đạo của  nguyên  tử và  tham  gia vào việc kết hợp nguyên tử để tạo thành phân tử hoặc các cấu trúc phức tạp hơn; electron-neutrino đóng vai  trò  quan trọng  trong  tính chất  phóng xạ  và ảnh hưởng đến tính bền vững của vật chất. Các thế hệ quark và lepton nặng hơn được phát hiện khi nghiên cứu tương tác của hạt ở năng lượng cao, cả trong phòng  thí nghiệm với các máy gia  tốc  lẫn trong các phản ứng tự nhiên của các hạt trong tia vũ trụ năng lượng cao ở tầng trên của khí quyển.

    Mô hình chuẩn tắc có rất nhiều ưu điểm và các kết quả tính toán phù hợp một cách chính xác với các kết quat thực nghiệm. Tuy nhiên cũng không ít những điểm yếu còn  sót  lại. Mô hình chuẩn tắc hiện  thời không  thể giải thích được vì sao tồn tại ba  thế hệ của quark và  lepton. Nó cũng không dự đoán được khối lượng của chúng, cũng như cường độ của các tương tác. Hy vong rằng, trong tương  lai sẽ xây dựng được một  lý thuyết hoàn chỉnh hơn, từ đó  chỉ  ra cách  thức để  tương  tác thống  nhất   suy biến để  trở thành  các tương  tác thành phần, khi năng lượng giảm. Một lý thuyết như vậy cũng đã được xây  dựng. Nó  được  gọi là Lý  thuyết  thống nhất  lớn  - Grand unified theory (GUT). Nhóm đối xứng chuẩn là nhóm  SU(5)

    Trong Mô hình chuẩn tắc, khối  lượng của các hạt neutrino đều bằng không. Dự  đoán này  chỉ  phù hợp  với  các kết  quả  thực nghiệm trước  đây.

    Ngày nay, có nhiều dấu hiệu chứng  tỏ rằng, neutrino có khối lượng rất nhỏ nhưng khác không. Nếu điều này là sự thực, thì đó là dấu hiệu phải xây dựng một lý thuyết mới cho các hạt cơ bản. Trong Lý thuyết thống nhất lớn, khối lượng của neutrino được dự đoán là rất nhỏ.

     Khối lượng rất lớn của quark đỉnh  lớn hơn khối lượng của bất kỳ hạt nào đã biết. Vì sao quark đỉnh lại nặng như vậy, vì sao tự nhiên lại lựa chọn lặp  lại ba  lần  cấu trúc  thế  hệ của  fermion. Đó  là những  vấn đề  của vật  lý năng  lượng  cao. Có thể  chìa  khoá để  tìm  câu trả  lời  cho các  vấn  đề này, chính là việc quark đỉnh có khối lượng rất lớn.


    Tài liệu tham khảo

    [1] Nguyễn Ngọc Giao, Hạt cơ bản, NXB ĐHQG Hồ Chí Minh, 2001

    [2] M. K. Sundaresan, Handbook of Particle Physics, CRC Press, 2001

    [3] Phạm Thúc Tuyền, Lý thuyết hạt cơ bản, Hà Nội, 2004

    [4] Kobayashi, CP violation and flavour mixing, The Nobel Foundation, 2008

    [5] J. Allday, Quarks Leptons and The Big Bang 2nd, IOP Publishing, 2002

    [6] Wikipedia, en.wikipedia.org/wiki/Quark.htm, ngày 20/05/2009

    [7] D. Griffiths, Introduction to Elementary Particales, John Wiley & Sons inc, 1987

    Trần Triệu Phú

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Nhất Trưởng Tuấn @ 16:00 02/08/2009
    Số lượt xem: 5284
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến