BQT Website cunghocvatly.violet.vn
Bây giờ là:
Chào mừng quý vị đến với website cùng học vật lý
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tìm Hiểu Sâu Thêm Về Bản Chất Lưỡng Tính Sóng - Hạt
ÁNH SÁNG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Cường Bùi
Ngày gửi: 23h:53' 13-07-2011
Dung lượng: 54.5 KB
Số lượt tải: 108
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Cường Bùi
Ngày gửi: 23h:53' 13-07-2011
Dung lượng: 54.5 KB
Số lượt tải: 108
Số lượt thích:
0 người
Bản chất lưỡng tính sóng - hạt của ánh sáng
Giả thuyết mới về môi trường truyền ánh sáng và sự giải thích hợp lý về lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng. Ánh sáng, nguồn năng lượng thiết yếu cho sự sống trên trái đất và là phương tiện thông tin hữu hiệu. Vai trò của ánh sáng là rất lớn. Vì vậy ánh sáng là đối tượng nghiên cứu không chỉ của khoa học mà còn trong nghệ thuật. Đã có nhiều công trình khoa học lớn nghiên cứu về ánh sáng với những kết quả quan trọng. Nhưng cũng còn những hiện tượng của ánh sáng chưa được giải thích hoặc còn gây tranh cãi như bản chất ánh sáng là gì, ánh sáng di chuyển như thế nào? Hiện nay đang tồn tại hai thuyết về sự di chuyển của ánh sáng, đó là ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng thể hiện trong lý thuyết của Christiaan Huygens, còn Isaac Newton và sau này là Albert Einstein cho rằng ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt. Mỗi lý thuyết đều giải quyết được một số hiện tượng của ánh sáng. Lý thuyết sóng ánh sáng, được Christiaan Huygens đưa ra, cho rằng dòng ánh sáng là sự lan truyền của sóng. Lý thuyết này giải thích được nhiều hiện tượng mang tính chất sóng của ánh sáng như giao thoa, nhiễu xạ; đồng thời giải thích tốt hiện tượng khúc xạ và phản xạ. Nhưng thuyết này không giải thích được hiện tượng quang điện. Lý thuyết hạt ánh sáng, được Isaac Newton đưa ra, cho rằng dòng ánh sáng là dòng di chuyển của các hạt vật chất. Lý thuyết này giải thích được hiện tượng phản xạ và một số tính chất khác của ánh sáng. Albert Einstein cũng cho rằng ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt và giải thích được hiện tượng quang điện; tuy nhiên lý thuyết này không giải thích được nhiều hiện tượng như giao thoa, nhiễu xạ mang tính chất sóng. Với việc phát hiện ra ánh sáng di chuyển với tốc độ ổn định và không phụ thuộc vào hệ quy chiếu và thuyết ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng, giả thuyết về môi trường truyền sóng ánh sáng là ether với tính chất là môi trường cố định và cứng hơn kim cương đã ra đời. Nhưng việc tìm kiếm môi trường ether đã thất bại mà tiêu biểu là thí nghiệm Michelson-Morley. Điều này củng cố thêm cho sự vững chắc của lý thuyết hạt ánh sáng. Để giải thích cho sự không phù hợp giữa thí nghiệm của Michelson-Morley năm 1887 với giả thuyết về môi trường truyền ánh sáng là ether, nhà vật lý người Hà lan Hendrik Lorent cho rằng các vật thể chuyển động trong môi trường ether sẽ co lại và thời gian sẽ chậm đi. Sự co lại của chiều dài và sự chậm lại của đồng hồ sẽ làm cho thời gian của các tia sáng di chuyển của mọi hướng là như nhau, như vậy Lorent vẫn cho rằng môi trường ether là có thực. Năm 1905, Albert Einstein cho rằng môi trường ether là không cần thiết khi người ta không biết mình chuyển động như thế nào trong không gian, tốc độ của ánh sáng là độc lập với người quan sát và họ sẽ đo được tốc độ của ánh sáng như nhau trong mọi hệ quy chiếu mà không phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của họ. Nói cách khác, Einstien đã coi ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt và không có môi trường truyền sóng ánh sáng. Tuy nhiên ánh sáng di chuyển dưới dạng sóng lại là điều không thể phủ nhận. Mặt khác, như Huygens đã nói, nếu ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt thì các hạt ánh sáng sẽ phải va chạm với nhau và bị đổi hướng, sự quan sát sẽ không thực hiện được nếu giữa mắt và vật được quan sát có một luồng ánh sáng chiếu ngang. Ý kiến này của Huygens còn đúng trong trường hợp sử dụng ánh sáng để truyền thông tin trong cáp quang. Với một tiết diện chật hẹp của sợi thuỷ tinh, nếu ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt thì các tín hiệu thông tin sẽ bị triệt tiêu hoặc bị sai lệch khi có hai luồng thông tin di chuyển ngược chiều nhau. Trong thực tế điều này không xảy ra, có nghĩa là ánh sáng di chuyển trong các sợi cáp quang dưới dạng sóng. Với hai lý thuyết khác nhau và với các hiện tượng thể hiện cả hai tính chất sóng và hạt, lý thuyết lượng tử coi ánh sáng có lưỡng tính sóng hạt. Khi ánh sáng đã được coi là có lưỡng tính sóng hạt thì chỉ sử dụng một trong hai lý thuyết, lý thuyết sóng và lý thuyết hạt ánh sáng, sẽ không đủ để giải thích cho tính chất đặc biệt này của ánh sáng. Lý thuyết sóng, như trên đã nói, đó là không giải thích được hiện tượng quang điện, còn lý thuyết hạt, không giải thích được các biểu hiện sóng của ánh sáng. Hơn thế, coi ánh sáng di chuyển dưới dạng hạt sẽ dẫn đến sự phủ nhận ánh sáng di chuyển với tốc độ là hằng số trong môi trường đồng nhất
 






